Chuyên đề giáo dục kỹ năng sống

<Trở về trang chủ>

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

             —————–

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

**********

 

 

NGUYỄN THỊ MỸ LỘC

ĐINH THỊ KIM THOA

 

 

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ

VÀ KỸ NĂNG SỐNG

CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG

(TÀI LIỆU TẬP HUẤN/ BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN)

 

 

 

 

 

Hà Nội – 2010

MỤC TIÊU

 

Sau khi tham gia đợt tập huấn này, người học có thể:

Kiến thức

  1. Hiểu rõ hơn một số vấn đề lý luận liên quan đến giá trị và kỹ năng sống:

Thế nào là giá trị sống? Hệ giá trị, thang giá trị và chuẩn giá trị là gì?

  1. Hiểu rõ hơn về một số giá trị bản sắc của dân tộc Việt Nam.
  2. Phân tích được mối quan hệ giữa giá trị bản sắc và giá trị phổ quát có tính nhân loại.
  3. Hiểu được bản chất của một số giá trị phổ quát như hoà bình, trách nhiệm, yêu thương, giản dị…
  4. Chỉ ra được mối quan hệ nền tảng giữa giá trị và kỹ năng sống.
  5. Phân biệt được một số khái niệm kỹ năng: kỹ năng sống; kỹ năng mềm, kỹ năng cứng…
  6. Phân tích được bản chất của các kỹ năng sống và mối quan hệ phụ thuộc giữa chúng.
  7. Xây dựng được các qui trình tiến hành các hoạt động giáo dục giá trị và kỹ năng sống.

 

Kỹ năng

  1. Người học vận dụng được những kiến thức được trang bị và kinh nghiệm của bản thân để thiết kế giờ hoạt động giáo dục giá trị và kỹ năng sống.
  2. Người học có thể tổ chức triển khai những giờ hoạt động giáo dục giá trị và kỹ năng sống.
  3. Người học biết cách tạo ra các trò chơi, lựa chọn trò chơi giáo dục phù hợp và sâu sắc; lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức hiệu quả.
  4. Người học biết tạo dựng môi trường giáo dục giá trị chuẩn mực nhằm kích thích tối đa sự cảm nhận giá trị ở người học.
  5. Người học có thể hướng dẫn đồng nghiệp cách tổ chức hoạt động giáo dục giá trị và kỹ năng sống.

 

Thái độ:

  1. Người học cảm nhận được ý nghĩa của đợt tập huấn đối với bản thân, tự đánh giá lại mình, có những điều chỉnh tích cực về tư duy và hành vi.
  2. Người học có nguyện vọng mong muốn mang những điều tốt đẹp đến cho mọi người, đặc biệt học sinh của mình.
  3. Người học cảm nhận sự cần thiết phải thay đổi cách dạy học và giáo dục nói chung và đối với môn Giáo dục công dân nói riêng.


 

 

 

 

PHẦN 1:

 

GIÁO DỤC

GIÁ TRỊ SỐNG

 


 

 

Hoạt động 1: Tìm hiểu thực trạng về giá trị sống của học sinh hiện nay

Bao gồm các công việc sau:

  1. Học viên thảo luận, trao đổi và đánh giá thực trạng giá trị sống của học sinh hiện nay.
  2. Học viên thảo luận theo nhóm tập trung và cho thí dụ minh hoạ về chuẩn giá trị của xã hội hiện nay.
  3. Học viên thảo luận về vai trò của giáo dục nói chung và của bản thân nói riêng đối với việc định hướng giá trị sống cho học sinh hiện nay.

 

Hoạt động 2: Tìm hiểu khái niệm giá trị sống và các khái niệm liên quan

Bao gồm các công việc sau:

  1. Đọc thông tin cơ bản ở phần 1.1 (và tham khảo thêm phụ lục 1.) để trả lời các câu hỏi sau:

+       Thế nào là giá trị sống?

+       Thế nào là hệ giá trị, thang giá trị và chuẩn giá trị.

  1. Thảo luận nhóm và đưa ra quan điểm riêng của nhóm mình về giá trị sống; thang giá trị và chuẩn giá trị. Viết ra giấy thí dụ về thang và chuẩn giá trị sống.
  2. Đọc thông tin cơ bản ở phần 1.2; và (tham khảo phụ lục 2) để trả lời các câu hỏi sau:
    1. Giá trị, bản sắc và văn hoá có mối liên quan như thế nào?
    2. Giá trị, thái độ và sở thích có mối liên hệ như thế nào?
    3. Thảo luận: giáo dục giá trị cần tính đến các yếu tố như bản sắc, văn hoá, thái độ và sở thích như thế nào?

 

Hoạt động 3: Tìm hiểu giá trị truyền thống của nhân cách người Việt Nam

 

Bao gồm các công việc sau:

  1. Đọc tài liệu tham khảo ở phụ lục 3 để trả lời các câu hỏi sau:
    1. Nhân cách người Việt nam mang những giá trị truyền thống gì?
    2. Những yếu tố nào tạo nên những đặc điểm và giá trị nhân cách đó?
    3. Thảo luận nhóm: đặc điểm môi trường sống hiện nay đã làm biến đổi những giá trị truyền thống của nhân cách như thế nào? Người giáo viên (giáo dục) cần làm gì để định hướng sự biến đổi này?
    4. Thảo luận: trong bản thân mỗi cá nhân chúng ta, những giá trị truyền thống gì còn giữ lại và những giá trị gì đã thay đổi? Cần định hướng sự phát triển như thế nào?

 

Hoạt động 4: Tìm hiểu các giá trị phổ quát (giá trị chung của nhân loại)

 

Bao gồm các công việc sau:

  1. Đọc tài liệu 1.3. để trả lời được câu hỏi:
    1. Giá trị truyền thống và giá trị phổ quát có mối quan hệ như thế nào? chỉ rõ sự liên hệ đó.
    2. Thảo luận nhóm về từng giá trị (có thể mỗi nhóm 1 giá trị), sau đó đại diện trình bày cho cả lớp hoặc cho từng nhóm về giá trị này
    3. Thảo luận: những hành vi đặc trưng của cá nhân thể hiện giá trị mà mình đang mang theo.
    4. Kể chuyện: Những nhân cách vĩ đại (hãy sưu tầm những câu chuyện về những danh nhân, hoặc những người tốt xung quanh mình để chia sẻ về các giá trị đã ảnh hưởng đến thành công cuộc đời của họ như thế nào).
    5. Trò chơi: Thực hiện một số trò chơi tập thể có thông điệp về giá trị mà bạn muốn (tham khảo phụ lục trò chơi).

 

Hoạt động 5: Tìm hiểu qui luật của sự hình thành giá trị ở cá nhân và con đường hình thành hành vi đạo đức

 

Bao gồm các công việc sau:

  1. Đọc thông tin phần (a) của 1.4 và tham khảo phụ lục 4 để trả lời các câu hỏi sau:

+       Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự hình thành giá trị ở mỗi cá nhân? Và cơ chế ảnh hưởng ấy diễn ra như thế nào?

  1. Thảo luận nhóm: Cơ chế hình thành giá trị trên có ý nghĩa quan trọng như thế nào trong việc vận dụng vào giảng dạy và giáo dục giá trị cho học sinh ở các cấp? Thử xây dựng qui trình hình thành một giá trị nào đó ở học sinh.
  2. Đọc thông tin phần (b) của 1.4 và nghiên cứu sơ đồ hình thành hành vi đạo đức cho học sinh (cá nhân hoặc nhóm) và thảo luận:

+       Các cách tiếp cận khác nhau trong việc hình thành hành vi đạo đức, cho thí dụ minh hoạ.

+       Trình bày kết quả trước lớp.

 

              THÔNG TIN CƠ BẢN CHO NỘI DUNG 1

 

1.1. Khái niệm giá trị và một số khái niệm liên quan

Theo từ điển Triết học do M.M.Rozental (Liên Xô) chủ biên (Nxb Tiến Bộ Maxcơva, 1974), “Giá trị là những định nghĩa về mặt xã hội của các khách thể trong thế giới chung quanh nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của khách thể ấy đối với con người và xã hội (cái lợi, thiện, ác, cái đẹp và cái xấu nằm trong những hiện tượng của đời sống xã hội hoặc tự nhiên). Xét bề ngoài, các giá trị là các đặc tính của sự vật hoặc hiện tượng, không phải đơn thuần do kết cấu bên trong của bản thân khách thể, mà do khách thể bị thu hút vào phạm vi tồn tại xã hội của con người và trở thành cái mang những quan hệ xã hội nhất định. Đối với chủ thể (con người), các giá trị là các đối tượng lợi ích của nó, còn đối với ý thức của nó thì chúng đóng vai trò là những vật định hướng hàng ngày trong thực trạng vật thể và xã hội, chúng biểu thị các quan hệ thực tiễn của con người đối với sự vật và hiện tượng xung quanh mình”.

Theo từ điển Tiếng Việt (Nxb Khoa học xã hội), giá trị là cái mà con người dùng làm cơ sở để xem xét một vật có lợi ích đến mức nào đối với con người; cái mà con người dựa vào dùng để xem xét một người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, tài năng; những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của xã hội; tính chất quy ra được thành tiền của một vật trong quan hệ buôn bán, đổi chác; độ lớn của một đại lượng, một lượng biến thiên.

Dưới góc độ Xã hội học, giá trị được quan tâm ở nội dung, nguyên nhân, điều kiện kinh tế xã hội cụ thể trong quá trình hình thành hệ thống giá trị nhất định của một xã hội.

Giá trị trong Đạo đức học luôn gắn liến với những khái niệm trung tâm như: cái thiện, cái ác, công bằng, bình đẳng, bác ái bởi vì khái niệm giá trị thuộc phạm vi đời sống đạo đức của con người, các quan hệ xã hội và quá trình hình thành các chuẩn mực, quy tắc đạo đức của xã hội.

Dưới góc độ Tâm lý học, khái niệm giá trị được nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo sự phát triển của nhân cách.

Giá trị, theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu đó là cái đã làm cho một khách thể nào đó có ích, có nghĩa, đáng quý đối với chủ thể, được mọi người thừa nhận. Người ta có thể phân chia giá trị thành: giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị riêng, giá trị chung, giá trị xã hội. Có quan điểm cho rằng giá trị là cái vốn có của khách thể, nhưng mỗi chủ thể lại có thể đánh giá, xem xét nó trên những góc độ khác nhau, đưa đến những quan niệm khác nhau về giá trị. Vì con người cũng có nhiều điểm tương đồng trong định hướng giá trị, nên có những giá trị được số đông chấp nhận và những giá trị này sẽ trở thành giá trị chung của xã hội. Tuy nhiên, giá trị cũng là phạm trù có tính lịch sử.

          Giá trị là “những niềm tin, thái độ, mục đích, cảm xúc, lý do đã được đánh giá, lựa chọn sau khi đã cân nhắc, xem xét, thử thách và thấm nhuần trong cuộc sống” (Raths 1966).

Tác giả J.H.Fichter, nhà Xã hội học người Mỹ cho rằng: “Tất cả cái gì có ích lợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân và xã hội đều có một giá trị”.

Theo tài liệu “Giáo dục giá trị” (Bộ văn hóa Thể thao Philippin), khái niệm giá trị có thể hiểu: “Một vật có giá trị khi nó được thừa nhận là có ích và mong muốn có được những thứ đó đã ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của con người. Không chỉ có hàng hóa vật chất mà cả lý tưởng và những khái niệm đều có giá trị như: sự thật, công lý, lương thiện”.

Tác giả V.P.Tugarinov (Liên Xô) lại cho rằng: giá trị là những khách thể, những hiện tượng và những thuộc tính của chúng mà tất cả đều cần thiết cho con người (lợi ích, hứng thú) của một xã hội hay một giai cấp nào đó cũng như một cá nhân riêng lẻ với tư cách là phương tiện thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích của họ, đồng thời cũng là những tư tưởng và ý định với tư cách là chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng.

L.Dramaliev (Bungari) coi giá trị là: “một thành tố khách quan của xã hội. Nó là một loại hiện tượng xã hội đặc biệt (một vật, một đối tượng, một liên hệ, một ý niệm), thỏa mãn được những nhu cầu nhất định của con người. Giá trị là một phẩm chất khách quan, một đặc tính, một khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã trở thành rõ rệt trong quá trình quan hệ qua lại có tính chất xã hội giữa người với người trong hành vi thực tế của họ. Với tính cách là một khách thể xã hội, giá trị không thể tách rời khỏi những nhu cầu, những mong muốn, thái độ, những quan điểm và những hành động của con người với tư cách là một chủ thể của các quan hệ xã hội”.

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Giá trị là tính có nghĩa tích cực, đáng quý, có ích của các đối tượng với các chủ thể”.

 

 

Còn tác giả Trần Trọng Thủy khi nghiên cứu về “Giá trị, định hướng giá trị và nhân cách” cũng xem giá trị là một hiện tượng xã hội điển hình, biểu thị các sự vật, hiện tượng, các thuộc tính và quan hệ của hiện thực, các tư tưởng, các chuẩn mực, mục đích và lý tưởng, các hiện tượng của tự nhiên và xã hội được con người tạo ra nhưng đều phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội và sự phát triển của cá nhân con người.

Nhìn chung, theo quan điểm của các nhà khoa học hay dưới góc độ của các ngành khoa học khác nhau, cũng như trong một số từ điển đã định nghĩa khái niệm giá trị đều có chung một số đặc điểm như sau:

–               Mức độ của một vật đáp ứng nhu cầu và thỏa mãn được khát vọng của con người, là cái được chủ thể đánh giá, thừa nhận trên cơ sở mối quan hệ với sự vật đó

–               Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội, với phí tổn cần thiết để tạo ra cái lợi đó.

–               Mang tính khách quan – nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con người.

–               Được hiểu theo hai góc độ: vật chất và tinh thần. Giá trị vật chất là giá trị đo được bằng tiền bạc dưới góc độ kinh tế, còn giá trị tinh thần tạo cho con người khoái cảm, hứng thú và sảng khoái.

–               Mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm, hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật mang giá trị.

–               Là một phạm trù lịch sử vì giá trị thay đổi theo thời gian, theo sự biến động của xã hội, phụ thuộc vào tính dân tộc, tôn giáo và cộng đồng.

Hệ giá trị

 

 

Hệ giá trị (hay còn gọi là hệ thống giá trị) là một tổ hợp giá trị khác nhau được sắp xếp, hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định, thành một tập hợp mang tính toàn vẹn, hệ thống, thực hiện các chức năng đặc thù trong việc đánh giá của con người theo những phương thức vận hành nhất định của giá trị

 

Các hệ giá trị có vị trí độc lập tương đối và tương tác với nhau theo những thứ bậc phù hợp với quá trình thực hiện các chức năng xã hội trong mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể. Do vậy, hệ thống giá trị luôn mang tính lịch sử xã hội và chịu sự chế ước bởi lịch sử – xã hội. Trong hệ thống giá trị có chứa đựng các nhân tố của quá khứ, của hiện tại và có thể cả những nhân tố trong tương lai, các giá trị truyền thống, các giá trị thời đại, các giá trị có tính nhân loại, tính dân tộc, tính cộng đồng, tính giai cấp, tính lý tưởng và tính hiện thực v.v…

Thang giá trị

Thang giá trị (thước đo giá trị) là một tổ hợp giá trị, một hệ thống giá trị được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên nhất định.

Thang giá trị biến đổi theo thời gian, theo sự phát triển, biến đổi của xã hội loài người, cộng đồng và từng cá nhân. Trong quá trình biến đổi đó, thang giá trị của xã hội, của cộng đồng và của nhóm chuyển thành thang giá trị của từng người, cứ thế qua từng giai đoạn lịch sử của con người.

Thang giá trị là một trong những động lực thôi thúc con người hoạt động. Hoạt động được tiến hành theo những thang giá trị cụ thể sẽ tạo nên những giá trị nhất định, phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người. Chính trong hoạt động tạo ra những giá trị lại góp phần khẳng định, củng cố, phát huy, bổ sung, hoàn thiện hoặc hay đổi thang giá trị.

Chuẩn giá trị

 

Chuẩn giá trị là những giá trị giữ vị trí cốt lõi, chiếm vị trí ở thứ bậc cao hoặc vị trí then chốt và mang tính chuẩn mực chung cho nhiều người. Khi xây dựng các giá trị theo những chuẩn mực nhất định về kinh tế, chính trị, đạo đức, xã hội, hay thẩm mỹ sẽ tạo ra các chuẩn giá trị. Mọi hoạt động của xã hội, của nhóm cũng như của từng cá nhân được thực hiện theo những chuẩn giá trị nhất định sẽ bảo đảm định hướng cho các hoạt động và hạn chế khả năng lệch chuẩn mực xã hội, đồng thời tạo ra những giá trị tương ứng đảm bảo sự tồn tại của con người [Theo 25, tr.64].

 

      Ở Việt Nam, chuẩn giá trị thường mang ý nghĩa luân lý sâu sắc. Theo Hồ Chủ Tịch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, trung với nước, hiếu với dân là thang giá trị cao nhất, là thước đo giá trị của người Việt Nam, trong đó cái “đức”, cái “thiện” là cốt lõi, là chuẩn của mọi giá trị, cùng với nó là các giá trị nhân văn truyền thống như lòng tự hào dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc, trung với nước, hiếu với dân, nhân nghĩa, cần cù, thông minh, năng động, sáng tạo. Mặc dù vậy, chúng ta cũng phải thừa nhận, xã hội Việt Nam hiện tại đang có sự biến động nhanh chóng, rõ nét thậm chí khủng hoảng, đảo lộn về thang giá trị, chuẩn giá trị xã hội trong một bộ phận thanh niên Việt Nam thể hiện trong suy nghĩ, lối sống và trong hành vi ứng xử như “sống suy đồi, thoái hoá một cách nghiêm trọng, ham tư lợi, vị kỉ, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng.v.v… suy đồi đến mức lãng quên, coi thường những chất liệu sống cơ bản”. Điều quan trọng không phải là lên án, kết tội một bộ phận nhỏ đang có lối sống như trên, mà cần tiếp tục nghiên cứu để có những nhận định, đánh giá đúng đắn, khách quan tình hình biến đổi của thang giá trị, chuẩn giá trị ngày nay, để có những định hướng giá trị đúng đắn cho xã hội, cho từng nhóm người, từng cá nhân để họ tạo ra những giá trị tốt nhất cho xã hội.

 

1.2. Mối quan hệ giữa văn hóa, bản sắc và giá trị

a. Khái niệm bản sắc và văn hóa

Văn hóa – “culture”, có gốc chữ Latin chính là sự “trồng cấy”. Ở đây theo nghĩa bóng thì culture có nghĩa: Văn hoá là quá trình nuôi dưỡng thành con người như thể gieo trồng và chăm sóc mầm cây vậy. Còn văn hoá theo nghĩa Hán tự là quá trình con người hoá con người.

Văn hoá là một giá trị, một ý nghĩa, một lối sống bất khả phân với con người. Con người là con người bởi có văn hoá; văn hoá là văn hoá bởi từ con người và cho con người.

Muốn trở thành văn hoá, một con người, một gia đình, một xã hội phải đào luyện, chắt lọc mình trong từng cử chỉ, từng hành vi, từng thể thức, từng thái độ. Sự chắt lọc ấy tạo nên bản sắc. Như vậy, văn hoá sẽ tạo nên bản sắc và bản sắc tạo nét riêng đặc thù cho văn hoá. Và một nền giáo dục phải nhắm đến mục đích đào tạo những con người có bản lĩnh cho xã hội khao khát theo đuổi giá trị văn hoá, như Bogoslovski nói: “Nền giáo dục phải giúp đỡ học sinh sống đời sống thịnh vượng và ý nghĩa, nó phải xây nên những nhân cách có khả năng hoà điệu và phong phú, giúp học sinh có khả năng tham dự vào ánh sáng chói loà nhất của vinh quang hạnh phúc cũng như có thể đối mặt với đau khổ một cách đầy phẩm hạnh và cam lòng thủ đắc, và cuối cùng họ có thể giúp đỡ người khác sống cuộc đời cao thượng”. Đào luyện con người văn hoá, trước hết là đào luyện một nền văn hoá toàn diện cho con người, và sau đó con người đó sẽ mang theo hành trang văn hoá của mình gia nhập cuộc hành trình của xã hội. Một công dân được giáo dục văn hoá là công dân có khả năng tham dự vào xã hội bằng một tấm lòng nhân ái, một thái độ cư xử lịch lãm, đúng mực, và một tâm hồn cao thượng. Một xã hội chỉ có thể trở thành văn hoá với những công dân đã được đào luyện văn hoá, và nền văn hoá đó giúp cho mọi người được sống trong ánh sáng nhân bản.

V. X. Xêmênốp khẳng định rằng, văn hóa và con người là những khái niệm liên quan chặt chẽ với nhau. Văn hóa không thể tách rời hoạt động và sự sáng tạo của con người. Nó thể hiện mức độ con người đã ý thức và khai thác những quan hệ của mình với tự nhiên, với xã hội và với chính bản thân mình – những mức độ tự hiện thực hóa các sức mạnh bản chất của con người. Từ góc độ triết học có thể nói, văn hóa là cách con người khai thác thế giới, bao hàm cả thế giới bên ngoài tự nhiên xã hội, cũng như thế giới bên trong của chính con người trong ý nghĩa hình thành và phát triển của nó.

Con người mong muốn càng ngày càng trở nên con người hơn. Nhân loại mong muốn tiến đến một nhân loại tiến bộ hơn. Văn hoá hướng tới một nền văn hoá ngày càng cao, hoàn hảo hơn, nhân bản hơn.

b. Văn hóa và giá trị

Ở trên chúng ta đã xem xét khái niệm “văn hóa” trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Chúng ta thấy rằng văn hóa gắn liền với sự hình thành, phát triển của con người và xã hội trong mối quan hệ với thế giới xung quanh. Cũng cần thấy rằng nhờ sự tương tác giữa nhận thức và đánh giá con người mới được định hướng đúng đắn trong hoạt động thực tiễn, trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân con người. Nếu như nhận thức luận quan tâm đến phương diện nhận thức thì có thể nói đánh giá lại gắn liền với giá trị học. Thông qua việc đánh giá, các giá trị văn hóa nổi lên tạo thành kim chỉ nam cho hành động của con người.

Trong bài báo “Văn hóa và các giá trị” N.D. Travtravatd đã khẳng định rằng, để làm sáng tỏ bản chất của văn hóa cần phải hiểu khái niệm giá trị, bởi lẽ giữa triết học văn hóa mác – xít và lý luận giá trị mác – xít có mối liên hệ mật thiết không thể tách rời. Theo ông, mọi người đều thừa nhận văn hóa – đó là cái được sáng tạo bởi bàn tay, trí tuệ cùng trái tim con người và làm cho con người trở thành người, văn hóa sẽ được xem xét như sự thống nhất toàn bộ những cái mà ở đó các giá trị đã được mọi người (nhân loại, nhóm, giai cấp, dân tộc…) thừa nhận và được hiện thực hóa vào đó, còn giá trị – là tất cả những cái mà mọi người mong muốn tới nó như tới mục đích hay được xem xét như phương tiện để đạt mục đích.

 

 

Văn hoá – bản sắc hay giá trị?

 

Trong Hội nghị toàn Liên bang xô viết về giá trị (1986), trả lời câu hỏi giá trị là gì, V.M.Megiusep khẳng định rằng, giá trị dĩ nhiên không phải là chính bản thân đồ vật nhưng đồng thời nó cũng là một cái gì đó tồn tại khách quan ở vật. Trong giá trị trao đổi của nền kinh tế hàng hóa, mối liên hệ xã hội của con người tồn tại tách biệt với con người. Khác hẳn với giá trị trao đổi, giá trị văn hóa là thuộc tính xã hội của đồ vật không tách rời với người sáng tạo chúng. Giá trị này được thể hiện như quan hệ xã hội nhất định, tồn tại khách quan, không loại trừ mà ngược lại gắn bó với sự phát triển của nhân cách. Bởi thế các quan hệ xã hội là chỉ tiêu phát triển nhân cách và cũng có nghĩa là giá trị văn hóa của nó. Những quan hệ xã hội đã tạo thành “thực thể” của văn hóa chừng nào chúng là những quan hệ mang tính người, những quan hệ xác định sự tồn tại và phát triển của nhân cách trong xã hội. Cách hiểu và lý giải bản chất giá trị như thế của V.M.Megiusep đã tạo một bước ngoặt trong việc nghiên cứu văn hóa từ góc độ giá trị học. Từ đây, không phải là thế giới các đồ vật mà chính là sự hình thành, phát triển của con người, khả năng tự do và sáng tạo của con người là cái mà tiếp cận giá trị học với văn hóa hướng tới.

V.P. Kudơmin đã chỉ ra ba cấp độ về chất vốn sẵn có với mọi khách thể. Theo ông đó chính là cấp độ vật chất, cấp độ chức năng và cấp độ hệ thống. Rõ ràng rằng, định nghĩa văn hóa như tổng thể các thành tựu vật chất và tinh thần hay như tổng thể các giá trị vật chất hay tinh thần mới dừng lại ở cấp độ đầu tiên của đối tượng. Khẳng định giá trị là các sự vật hay hiện tượng thoả mãn nhu cầu và lợi ích của con người mới dừng lại ở cấp độ thứ hai – cấp độ chức năng. Còn xem xét giá trị văn hóa là những quan hệ xã hội để phát triển con người đã tiến đến cấp độ thứ ba – cấp độ hệ thống. Nhưng trong cả ba cấp độ xem xét, chúng ta đều thấy gắn bó với một hiện tượng xã hội vô cùng quan trọng. Đó chính là lao động của con người, hay nói khái quát hơn, hoạt động người. Thì đây, cấp độ thứ nhất chẳng qua xác định giá trị văn hóa là những sản phẩm của lao động, là những kết quả của hoạt động. Nhìn rộng ra có thể nói cấp độ thứ hai mới chỉ nhìn thấy giá trị văn hóa là sự chi phí sức lực con người và khả năng đáp ứng nhu cầu, lợi ích của con người mà chưa nhìn thấy nhu cầu, lợi ích chính là động lực thúc đẩy lao động, thúc đẩy hoạt động của con người. Còn cấp độ thứ ba, kết quả tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần đã đưa chúng ta đến việc xác định giá trị văn hóa là những quan hệ xã hội phát triển nhân cách con người. Nhưng quan hệ xã hội không thể nào tồn tại biệt lập với hoạt động của con người. Văn hóa là thước đo sự hình thành và phát triển nhân cách mà giá trị tối cao của một thước đo như thế chính là sự hình thành và phát triển con người như một thực thể tự do và sáng tạo. Vậy thì cách tiếp cận giá trị học với văn hóa không loại trừ và cũng không thể loại trừ cách tiếp cận hoạt động với văn hóa. Giá trị văn hóa chính là những hình thức, phương thức hoạt động – quan hệ làm cho con người trở thành chủ thể tự do và sáng tạo.

c. Giá trị và bản sắc

Thoát ra khỏi cái nhìn thuần kinh tế – chúng ta hiểu rằng nền sản xuất xã hội bao hàm sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra chính bản thân con người. Những hình thức, phương thức hoạt động – quan hệ đã được hình thành trong hoạt động thực tiễn của con người giờ đây phải được mã hóa, ký hiệu hóa vào trong các bản vẽ, sách vở, chương trình tin học và đặc biệt là trong các sách giáo khoa, trong chương trình đào tạo từ phổ thông đến đại học để đào tạo và giáo dục ra con người mới, để sản xuất ra những thực thể tự do và sáng tạo. Chương trình giáo dục ấy chính là sự cô đọng các giá trị văn hóa của một đất nước, một dân tộc, một thời đại. Chính vì thế mà mỗi lần cải cách giáo dục, thay đổi sách giáo khoa là một lần đánh giá lại các giá trị văn hóa, là một lần thay đổi lại bảng giá trị văn hóa để sản xuất con người đạt hiệu quả cao, đáp ứng những đòi hỏi mới của cuộc sống. Nhưng sự đánh giá lại theo định hướng nào? Theo định hướng hình thành con người tự do và sáng tạo. Nhưng vấn đề ở đây cũng đòi hỏi một cách nhìn biện chứng. Tự do và sáng tạo luôn đi kèm với khuôn mẫu và kế thừa, luôn đi kèm với hiện đại, tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. Bảng giá trị thời đại Hồ Chí Minh là bảng giá trị sản xuất ra những con người Việt Nam mới thực sự tự do, thực sự sáng tạo, là bảng giá trị định hướng cho dân tộc Việt Nam bước vào thiên kỷ mới của nhân loại. Nhìn nhận một cách sâu xa hơn, chúng ta thấy bảng giá trị chính là kết quả trong quan hệ giá trị của con người với hiện thực hay nói chính xác hơn, trong quan hệ giá trị của chủ thể đánh giá với các sự vật, hiện tượng mang giá trị. Vậy thì các giá trị nằm ở đâu? Ở chủ thể đánh giá hay ở sự vật hay ở chính không gian đặc thù được hình thành nhờ quan hệ giá trị. Như vậy, chính trong quá trình làm lại tự nhiên bởi con người và làm lại con người bởi con người, một không gian đặc thù cho sự tồn tại của loài người đã được hình thành: giá trị quyển. Không gian đặc thù này tạo nên cái bản sắc riêng của các giá trị. Mỗi bản sắc đều có giá trị riêng của mình. Mỗi cá nhân hay xã hội đều mang trong mình những giá trị bản sắc và giá trị chung.

Tóm lại, mối quan hệ giữa văn hoá, giá trị và bản sắc nằm ngay trong khái niệm văn hóa của UNESCO được thừa nhận rộng rãi: “Văn hóatổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại. Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” (15, tr.5).

d. Mối quan hệ giữa sở thích, thái độ và giá trị

Thái độ      

Thái độ là khuynh hướng phản ứng có tính ổn định mang màu sắc cảm xúc, thích hoặc không thích, đối với con người, sự vật hay tư tưởng nào đó.

Thái độ của con người được suy luận từ chính hành vi của người đó và nó không thể đo trực tiếp như kỹ năng, sự kiện hay là các quan niệm. Sự khác nhau cơ bản giữa quan niệm và thái độ là thái độ ảnh hưởng đến việc chấp nhận hay chối bỏ con người, sự vật hay tư tưởng như là một mục tiêu của thái độ. Quan niệm là quan điểm nhận thức mà chưa thể hiện thái độ.

 

Một số thái độ cần hình thành cho học sinh

– Yêu thích các môn học.

– Quí trọng thầy cô giáo.

– Yêu quí bạn bè.

– Yêu thích nhà trường.

– Sẵn sàng bắt tay làm việc.

– Làm việc nhiệt tâm.

– Quí trọng và sử dụng hiệu quả thời gian rỗi.

– Luôn tuân theo các chỉ dẫn.

– Bảo quản tốt đồ dùng cá nhân.

– Bảo vệ của cải của người khác cũng như xã hội.

– Phối hợp làm việc tốt với người khác.

– Tuân thủ qui định an toàn.

– Giữ gìn và bảo vệ sức khoẻ.

– Ứng xử nhã nhặn với người khác.

 

Giá trị giống thái độ ở chỗ là cùng chỉ mức độ thích của bản thân đối với con người, sự vật hay tư tưởng. Tuy nhiên, giá trị dựa vào quan niệm về cái gì đáng khao khát, trong khi đó thái độ không hoàn toàn dựa vào quan niệm này. Thái độ phản ánh thông qua các từ như “thích” và “không thích”, giá trị thể hiện qua các từ “tốt” hay “xấu”.

Sở thích

Là khuynh hướng phản ứng mang màu sắc cảm xúc nhất thời của chủ thể (thích hoặc không thích), đối với con người, sự vật nào đó.

Theo Klausmeier and Goodwin, không có sự phân biệt rõ ràng giữa sở thích (taste), thái độ (attitude) và giá trị (value), nhưng họ đã cố gắng giải thích sự khác biệt từ các góc độ: sự bền vững, phạm vi, tính chủ thể, ý nghĩa với cá nhân hay ý nghĩa với xã hội.

Từ góc độ tính bền vững, sở thích mang tính nhất thời, giá trị có tính ổn định cao hơn, thái độ ở giữa hai mức độ này.

Từ góc độ mục tiêu, sở thích hướng tới cái gì đó cụ thể, thí dụ thích hay không thích con vật, màu sắc nào đó…, giá trị có tính khái quát hơn và nó bao trùm một mảng kinh nghiệm rộng lớn hơn. Thí dụ, sở thích của ta là ưa thích một loại nhạc nào đó, thái độ sẽ chấp nhận hoặc từ chối một số dòng nhạc nhất định như Jazz, cổ điển… giá trị là toàn bộ phạm vi của âm nhạc trong cuộc sống của mỗi cá nhân.

Từ góc độ chủ thể, sở thích được nhắc tới khi nói về nhận thức của cá nhân về sự cuốn hút hoặc không cuốn hút đối với đối tượng bên ngoài; thái độ chỉ ra mối quan hệ giữa cá nhân và đối tượng và giá trị là cái gì đó vốn gắn liền sâu sắc với cá nhân.

Từ góc độ ý nghĩa cá nhân, sở thích có thể thay đổi nhưng không ảnh hưởng đến toàn bộ nhân cách hay cấu trúc nhân cách. Thái độ cũng có thể thay đổi, nhưng nếu thay đổi quá nhiều thì sẽ dẫn đến sự thay đổi bản thân. Nếu có sự thay đổi quá mạnh mẽ và rõ ràng trong hệ thống giá trị thì sẽ có sự thay đổi sâu sắc về nhân cách.

Từ góc độ ý nghĩa xã hội, sở thích mang ý nghĩa cá nhân nên nó có ảnh hưởng không quan trọng lắm tới xã hội. Giá trị là yếu tố có ý nghĩa đối với cơ cấu tổ chức xã hội và có ý nghĩa đối với cộng đồng, dân tộc…

 

1.3.         Giá trị truyền thống của nhân cách con người Việt Nam và những giá trị toàn cầu

a. Các giá trị truyền thống (đọc phụ lục 3)

Áo dài ngũ thân

Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có những văn hóa truyền thống đặc trưng riêng của mình. Như trên đã nói, hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nên bản sắc riêng của một dân tộc. Giá trị văn hóa truyền thống đó được truyền lại cho thế hệ sau và trở thành một động lực nội sinh để phát triển đất nước. Theo giáo sư Trần Văn Giàu: “Giá trị truyền thống được hiểu là những cái tốt, bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị. Thậm chí không phải bất cứ cái gì tốt đều được gọi là giá trị; mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “giá trị truyền thống”.

Giá trị truyền thống là những chuẩn mực, là thước đo cho hành vi đạo đức, cho những quan hệ ứng xử giữa người và người trong một cộng đồng, một giai cấp, một quốc gia, một dân tộc nhất định. Giá trị văn hóa truyền thống của một dân tộc là những nguyên lý đạo đức lớn mà con người trong một nước thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử đều dựa vào để phân biệt phải trái, đúng, sai để định hướng cho các hoạt động vì mục đích xây dựng cuộc sống tự do và tiến bộ của dân tộc đó.

Những giá trị của nó được chuyển giao tiếp nối, qua nhiều thế hệ và giá trị văn hóa truyền thống đó được giữ gìn phát huy lên một tầm cao mới. Qua hàng nghìn năm lịch sử, các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, ý thức cộng đồng được lưu truyền, phát triển tạo thành một hệ giá trị mới của dân tộc Việt Nam.

Những giá trị truyền thống như lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù và sáng tạo, lạc quan, vì nghĩa, tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người được thể hiện qua các câu ca dao, tục ngữ sau:

“Thương người như thể thương thân”

Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn”

“Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy là khác giống nhưng chung một giàn”

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước thì thương nhau cùng”

“Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao”

“Uống nước nhớ nguồn”

“Lá lành đùm lá rách”

“Ôn cố tri tân”

“Sớm khuya tối lửa tắt đèn có nhau”

“Công cha như núi Thái sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

“Một mặt người hơn mười mặt của”

“Người sống đống vàng”

“Chị ngã em nâng”

“Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”

“Năng nhặt chặt bị”

“Kiến tha lâu đầy tổ”

“Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện”

“Khi có mà không ăn dè, đến khi ăn dè chẳng có mà ăn”.

………………..

b. Các giá trị phổ quát

Bên cạnh các giá trị mang tính bản sắc, đặc trưng cho mỗi dân tộc, vùng miền, có những giá trị mang tính nhân loại, có nghĩa là không phân biệt màu da, quốc tịch, vị trí địa lý… mọi con người đều cùng hướng về những giá trị đó. Hơn nữa, sử dụng những giá trị phổ quát làm thang giá trị chủ đạo sẽ giảm được sự phức tạp trong quá trình định chuẩn và tránh được những hậu quả khôn lường do chọn phải những thang giá trị lạc hậu làm chuẩn cho xã hội.

Để nghiên cứu xem những giá trị phổ quát là những giá trị nào, năm 1995, một dự án quốc tế về giá trị sống đã được triển khai trên hơn 100 nước, và các nhà nghiên đã đưa ra kết quả với 12 giá trị sau:

a. Giá trị Hòa bình

Nói đến hòa bình, chúng ta nghĩ ngay đến từ trái nghĩa là chiến tranh. Điều đó có nghĩa là hòa bình tức là không có chiến tranh, không có súng đạn và không có chết chóc, thương tổn.

Tuy nhiên, hòa bình không đơn giản chỉ là không có chiến tranh. Hòa bình là khi chúng ta đang sống hòa thuận và không có sự đấu đá lẫn nhau. Nếu mỗi người trong thế giới được yên ổn, đó sẽ là một thế giới hòa bình.

Hòa bình còn có nghĩa là đang sống với sự yên bình của thế giới nội tâm. Hòa bình là tình trạng bình tĩnh và thư thái của trí óc.

Hòa bình bắt đầu từ mỗi người chúng ta. Thông qua sự thinh lặng và sự suy nghĩ đúng đắn về ý nghĩa của hòa bình, chúng ta có thể tìm được nhiều cách mới mẻ và sáng tạo để tạo thuận lợi cho sự hiểu biết về các mối quan hệ và sự hợp tác với tất cả mọi người.

b. Giá trị Tôn trọng

Tôn trọng trước hết là tự trọng – là biết rằng tự bản chất tôi có giá trị. Một phần của tự trọng là nhận biết những phẩm chất của chính tôi. Tôn trọng là lắng nghe người khác. Tôn trọng là biết người khác cũng có giá trị như tôi. Tôn trọng sẽ hình thành sự tin cậy lẫn nhau.

Khi chúng ta tôn trọng chính mình, thì dễ dàng tôn trọng người khác. Những ai biết tôn trọng sẽ nhận đuợc sự tôn trọng. Hãy biết rằng mỗi người đều có giá trị và khi thừa nhận giá trị của người khác thì thế nào cũng chiếm được sự tôn trọng của người khác đối với mình.

Một phần của sự tôn trọng là ý thức rằng tôi có sự khác biệt với người khác trong cách đánh giá.

Tuy nhiên, nếu sự tôn trọng càng được đo lường dựa vào những gì thuộc bề ngoài thì mong muốn được người khác thừa nhận càng lớn. Mong muốn (được thừa nhận) càng lớn thì người ta càng dễ là nạn nhân và mất sự tôn trọng bản thân.

c. Giá trị Yêu thương

 

          Albert Enstein nói: “Nhiệm vụ của chúng ta là phải nhân rộng ra xung quanh ta lòng trắc ẩn và nó bao trùm tất cả cuộc sống của con người và thiên nhiên.” Yêu người khác nghĩa là bạn muốn điều tốt cho họ. Yêu là biết lắng nghe; yêu là chia sẻ.

 

Khi yêu thương trọn vẹn, giận dữ sẽ tránh xa. Tình yêu là giá trị làm cho mối quan hệ giữa chúng ta trở nên tốt hơn. Lev Tolstoi viết: “Luật của cuộc sống ở trong sự tử tế của tâm hồn chúng ta. Nếu con tim của chúng ta trống rỗng thì không có luật nào hay tổ chức nào có thể lấp đầy.”

 

Trong một thế giới tốt đẹp, quy luật tự nhiên là yêu thương; và trong một con người tốt, bản chất tự nhiên là sự thương yêu. Tình yêu mang tính phổ quát không có biên giới hoặc sự thiên vị, tình yêu lan tỏa đến tất cả mọi người. Tình yêu ở quanh ta và ta có thể cảm nhận được nó. Giá trị của tình yêu là ở chỗ nó như là một chất xúc tác tạo nên sự thay đổi, phát triển và thành đạt. Tình yêu là nhìn nhận mỗi người theo cách tốt đẹp hơn. Tình yêu thật sự luôn bao hàm lòng tốt, sự quan tâm, hiểu biết và không có những hành vi ghen tị cũng như kiểm soát người khác.

d. Giá trị Khoan dung

 

Khoan dung là sự cởi mở và sự chấp nhận vẻ đẹp của những điều khác biệt. Khoan dung là tôn trọng qua sự hiểu biết lẫn nhau. Hòa bình là mục tiêu, khoan dung là phương pháp. Có khoan dung, bạn sẽ trở nên cởi mở và chấp nhận sự khác biệt với những vẻ đẹp của nó. Người khoan dung thì biết rút ra những điều tốt nơi người khác cũng như trong các tình thế. Khoan dung là nhìn nhận cá tính và sự đa dạng trong khi vẫn biết hóa giải những mầm mống gây chia rẽ, bất hòa và tháo gỡ ngòi nổ của sự căng thẳng được tạo ra bởi sự dốt nát.

Nguyên nhân của việc không khoan dung là sự sợ hãi và thiếu hiểu biết. Hạt giống của khoan dung là tình yêu thương; nước để nó nảy mầm là lòng trắc ẩn và sự quan tâm, chăm sóc. Khi thiếu đi tình yêu thương sẽ thiếu đi lòng khoan dung. Những ai biết đánh giá điều tốt trong mọi người và trong những tình huống là những người có lòng khoan dung.

e. Giá trị Trung thực


 

 

Trung thực là sự thật. Trung thực có nghĩa là không có sự mâu thuẫn và trái ngược nhau trong suy nghĩ, lời nói hay hành động. Trung thực là sự nhận thức về những gì là đúng đắn và thích hợp trong vai trò, hành vi và các mối quan hệ của một người.

 

Khi trung thực ta cảm thấy tâm hồn trong sáng và nhẹ nhàng. Một người trung thực và chân chính thì xứng đáng được tin cậy.

Trung thực thể hiện trong tư tưởng, lời nói và hành động thì đem lại sự hòa thuận. Trung thực là sử dụng tốt những gì được ủy thác cho bạn. Trung thực là cách xử sự tốt nhất. Đó là một mối quan hệ sâu sắc giữa sự lương thiện và tình bạn.

Khi sống trung thực, bạn có thể học và giúp người khác học cách biết trao tặng. Tính tham lam đôi khi là cội rễ của sự bất lương và của sự không trung thực. Sự tham lam là đủ cho những người cần, nhưng không bao giờ thỏa mãn cho kẻ tham lam. Khi nhận thức được về mối quan hệ này với nhau, chúng ta nhận ra được tầm quan trọng của lòng trung thực.

f. Giá trị Khiêm tốn

Khiêm tốn là ăn ở, nói năng, làm việc một cách nhẹ nhàng và đơn giản mà lại có hiệu quả. Khiêm tốn gắn liền với tự trọng. Khiêm tốn là khi bạn nhận biết khả năng, uy thế của mình, nhưng không khoe khoang.

Một người khiêm tốn tìm được niềm vui khi lắng nghe người khác và biết chấp nhận người khác. Khi quân bình được giữa tự trọng và khiêm tốn, bạn có được sức mạnh tâm hồn để tự điều khiển và kiểm soát chính mình. Khiêm tốn làm cho một người trở nên vĩ đại trong trái tim của nhiều người. Khiêm tốn tạo nên một trí óc cởi mở. Bằng khiêm tốn bạn có thể nhận ra sức mạnh của bản thân và khả năng của người khác.

Khiêm tốn là giữ được sự ổn định và duy trì sức manh bên trong, và không cần phải kiểm soát từ phía ngoài. Khiêm tốn cho phép mình sống với phẩm giá và lòng chính trực, không cần đến những bằng chứng của một thể hiện bên ngoài. Khiêm tốn cho phép một sự nhẹ nhàng trong việc đối mặt với các thách thức. Khiêm tốn loại trừ những sở hữu tạo nên các bức tường của tính tự cao tự đại. Sự kiêu ngạo làm thiệt hại hay hủy hoại việc đánh giá tính độc đáo của người khác và vì vậy, đó là một sự vi phạm tinh vi các quyền cơ bản của họ.

Xu hướng gây ấn tượng, lấn át hoặc hạn chế tự do của người khác để sau đó chứng tỏ bản thân thì sẽ làm giảm bớt trải nghiệm của bản thân về giá trị, phẩm cách và bình yên trong tâm trí của họ.

g. Giá trị Hợp tác

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hợp tác là khi mọi người biết làm việc chung với nhau và cùng hướng về một mục tiêu chung. Một người biết hợp tác thì có những lời lẽ tốt đẹp và cảm giác trong sáng về người khác cũng như đối với nhiệm vụ. Việc hợp tác đòi hỏi thừa nhận giá trị về sự đóng góp của mỗi người và có một thái độ tích cực.

 

Khi hợp tác, cũng cần phải biết là điều gì là cần thiết, điều gì là nên làm. Đôi khi chúng ta cần một ý tưởng mới, đôi khi cũng cần để cho ý tưởng của chúng ta trôi đi. Đôi khi chúng ta cần phải dẫn dắt theo ý tưởng của mình, nhưng đôi khi chúng ta cần phải đi theo ý tưởng của những người khác. Hợp tác phải được chỉ đạo bởi nguyên tắc về sự tôn trọng lẫn nhau.

Một người biết hợp tác sẽ nhận được sự hợp tác. Khi có yêu thương thì có sự hợp tác. Khi nhận thức được những giá trị của cuộc sống, ta có khả năng tạo ra sự hợp tác.

Sự can đảm, sự quan tâm, sự chăm sóc, và sự đóng góp là sự chuẩn bị đầy đủ cho việc tạo ra sự hợp tác.

h. Giá trị Hạnh phúc

Hạnh phúc là trạng thái bình an của tâm hồn khiến con người không có những thay đổi đột ngột hay bạo lực. Khi trao hạnh phúc thì nhận được hạnh phúc. Khi bạn hy vọng, đó là lúc hạnh phúc. Khi tôi yêu thương sự bình an nội tâm và hạnh phúc chợt đến ngay.

Nói những lời tốt đẹp về mọi người và mang tính xây dựng đem lại hạnh phúc nội tâm. Những hành động trong sáng và quên mình sẽ đem đến hạnh phúc. Hạnh phúc lâu bền là trạng thái của sự hài lòng bên trong.

Khi hài lòng với chính mình, bạn sẽ cảm nhận được hạnh phúc. Khi những lời nói của tôi là “những bông hoa thay vì những hòn đá”, tôi đem lại hạnh phúc cho thế giới.

Hạnh phúc sinh ra hạnh phúc. Buồn rầu tạo ra buồn rầu.

i. Giá trị Trách nhiệm

Trách nhiệm là việc bạn góp phần của mình vào công việc chung. Trách nhiệm là đang thực hiện nhiệm vụ với lòng trung thực.

Trách nhiệm là thực hiện phần đóng góp của mình. Trách nhiệm là chấp nhận những đòi hỏi và thực hiện nhiệm vụ với khả năng tốt nhất của mình. Trách nhiệm không chỉ là một cái gì đó ràng buộc chúng ta, mà còn là điều gì đó cho phép chúng ta đạt được những gì chúng ta mong muốn.

Trách nhiệm đối với toàn cầu đòi hỏi sự kính trọng đối với toàn thể nhân loại. Trách nhiệm là sự sử dụng toàn bộ nguồn lực của chúng ta để tạo ra một sự thay đổi tích cực.

Muốn có hòa bình, chúng ta phải có trách nhiệm tạo ra sự yên ổn. Muốn có một thế giới hài hòa, chúng ta phải có trách nhiệm chăm sóc thiên nhiên. Một người được coi là có trách nhiệm khi người ấy đồng ý góp phần để gánh vác công việc chung với các thành viên khác.

Như là một người có trách nhiệm, bạn làm nhiều hơn những điều/việc xứng đáng để góp phần với người khác. Một người có trách nhiệm thì biết
thế nào là phải, là đẹp, là đúng, nhận ra được điều gì tốt để góp phần. Quyền lợi gắn liền với trách nhiệm. Trách nhiệm là đang sử dụng tiềm lực, tài nguyên của chúng ta để tạo ra những thay đổi tích cực.

j. Giá trị Giản dị

 

Giản dị là sống một cách tự nhiên, không giả tạo. Khi bạn quan sát thiên nhiên bạn sẽ biết giản dị là như thế nào. Giản dị là điều đầu tiên cho sự phát triển bền vững.

 

 

Giản dị là đẹp. Giản dị là thư giãn. Giản dị là chấp nhận hiện tại và không làm mọi điều trở nên phức tạp. Người giản dị thì thích suy nghĩ và lập luận rõ ràng. Giản dị dạy chúng ta biết tiết kiệm – biết thế nào là sử dụng tài nguyên, tiềm năng một cách khôn ngoan; biết hoạch định đường hướng cho tương lai. Giản dị giúp bạn kiên nhẫn, làm nảy sinh tình bạn và khả năng nâng đỡ.

Giản dị là hiểu rõ giá trị của những vật chất dù nhỏ bé nhất trong cuộc sống. Giản dị là cảm nhận vẻ đẹp bên trong và nhận ra giá trị của tất cả mọi người, ngay cả những người nghèo và khó khăn nhất. Giản dị là vui thích với một tâm trí và trí tuệ ngay thẳng, mộc mạc. Giản dị kêu gọi mọi người suy nghĩ lại những giá trị của mình.

Giản dị đặt ra câu hỏi rằng chúng ta có nên giảm mua những sản phẩm không cần thiết hay không. Những cám dỗ thèm muốn về mặt tâm lí tạo nên những nhu cầu giả tạo. Các mong muốn được kích thích bởi những nhu cầu cần có những thứ không cần thiết tạo ra các xung đột giữa giá trị với sự phức tạp hóa bởi lòng tham, sự sợ hãi, áp lực bạn bè và cảm giác sai lệch về bản sắc. Trong khi sự đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho phép có một cuộc sống thoải mái, thì những sự thái quá và thừa thãi có thể dẫn tới hư hỏng và lãng phí.

Giản dị giúp giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo bằng cách thể hiện tính logic của một nguyên lí kinh tế đúng đắn: kiếm tiền, tiết kiệm và chia sẻ sự hi sinh và thịnh vượng có thể để có một cuộc sống có chất lượng hơn cho tất cả mọi người, bất kể họ sinh ra ở đâu.

k. Giá trị Tự do

Tự do có thể bị hiểu lầm là một cái ô rộng lớn và không có giới hạn, tức là cho phép “làm những gì tôi muốn, khi nào tôi muốn, với bất kì ai tôi muốn”. Khái niệm này mang tính chất đánh lừa và lạm dụng sự lựa chọn.

Xâm phạm các quyền của một hay nhiều người để có tự do cho bản thân, gia đình hoặc dân tộc là một sự lạm dụng tự do. Loại lạm dụng này thường phản tác dụng; rốt cuộc áp đặt một điều kiện cản trở, và trong một số trường hợp là sự áp bức cho những người lạm dụng và người bị lạm dụng.

Tự do thực sự được thực hành và trải nghiệm khi các thông số được xác định và được hiểu rõ. Các thông số được xác định bởi nguyên tắc tất cả mọi người đều có quyền như nhau. Ví dụ, quyền về hòa bình, hạnh phúc và công bằng là bẩm sinh, không phân biệt tôn giáo, văn hóa hay giới tính.

Tất cả mọi người đều có quyền tự do. Trong sự tự do ấy, mỗi người có bổn phận tôn trọng quyền lợi của những người khác. Tự do tinh thần là một kinh nghiệm khi ta có những suy nghĩ tích cực về tất cả, kể cả về chính mình. Tự do thuộc lĩnh vực của lý trí và tâm hồn.

Tự do đầy đủ chỉ vận hành khi các quyền được cân bằng với trách nhiệm, và sự chọn lựa được cân bằng với lương tâm.

 

 

Tự do bên trong là được giải phóng khỏi những lầm lẫn và phức tạp trong tâm trí, trí tuệ và trái tim vốn nảy sinh từ những điều tiêu cực, là sự trải nghiệm khi ta có những suy nghĩ tích cực đối với tất cả người khác, kể cả với bản thân mình.

 

Tự do là một món quà quý giá. Chỉ có thể tự do thật sự khi các quyền lợi
quân bình với những trách nhiệm. Có tự do thực sự khi mọi người có được quyền bình đẳng.

l. Giá trị Đoàn kết

Đoàn kết là sự hòa thuận ở trong và ở giữa các cá nhân trong một nhóm, một tập thể. Đoàn kết được tồn tại nhờ sự chấp nhận và hiểu rõ giá trị của mỗi người, cũng như biết đánh giá đúng sự đóng góp của họ đối với tập thể.

Đoàn kết được xây dựng qua việc chia sẻ các mục tiêu, niềm hy vọng và viễn tưởng tương lai. Khi các bạn đoàn kết, nhiệm vụ lớn dường như trở nên dễ dàng thực hiện. Sự thiếu tôn trọng dù là nhỏ có thể là lý do làm cho mất đoàn kết.

Đoàn kết tạo nên kinh nghiệm về sự hợp tác, làm gia tăng sự hăng hái trong nhiệm vụ và tạo ra một bầu không khí thân thiện. Đoàn kết tạo ra cảm giác hạnh phúc êm ái và gia tăng sức mạnh cho mọi người.

Đoàn kết được xây dựng từ một tầm nhìn, hy vọng và mục đích vị tha chung hoặc là một sự nghiệp vì những điều tốt đẹp chung.

Tính ổn định của tình đoàn kết bắt nguồn từ tinh thần bình đẳng và thống nhất. Sự vĩ đại của đoàn kết là ở chỗ tất cả mọi người đều được tôn trọng. Đoàn kết được giữ vững bởi việc tập trung năng lượng, chấp nhận và đánh giá giá trị của đội ngũ đông đảo những người tham gia và sự đóng góp độc đáo mà mỗi người có thể thực hiện, và bởi việc duy trì lòng trung thành không chỉ đối với nhau mà còn đối với cả nhiệm vụ.

Nhân loại chưa thể nào duy trì được sự thống nhất để chống lại kẻ thù chung của các cuộc nội chiến, mâu thuẫn sắc tộc, đói nghèo và vi phạm các quyền con người.

Khi cá nhân ứng xử trong sự hài hòa thì có thể giữ được ổn định và làm việc có hiệu quả hơn ở trong nhóm. Đoàn kết truyền cảm hứng cho trách nhiệm cá nhân mạnh hơn và những thành tựu tập thể lớn hơn.

Việc tạo dựng nên tình đoàn kết trên thế giới đòi hỏi mỗi cá nhân phải xem cả nhân loại như gia đình của mình và tập trung vào những đường hướng và giá trị tích cực. Một dấu hiệu thiếu tôn trọng có thể làm cho tình đoàn kết bị đổ vỡ. Việc ngắt lời người khác, đưa ra những phê phán liên tục và thiếu tính xây dựng, theo dõi người khác hoặc kiểm soát người khác đều là những âm thanh rất khó nghe đập mạnh vào các mối quan hệ.

Rõ ràng, những giá trị phổ quát này đều được chứa đựng và thống nhất với các giá trị truyền thống của Việt Nam như đã đề cập trên.

 

1.4.         Qui luật hình thành giá trị và hành vi đạo đức

 a. Tính qui luật trong hình thành các giá trị của cá nhân

Giá trị là một bộ phận trong mối quan hệ nhiều mặt của con người với con người với thế giới, với đời sống xã hội. Giá trị có liên quan với nhu cầu. Nói đến nhu cầu phải nói đến đối tượng, nội dung đối tượng và đặc biệt là phương thức thỏa mãn nhu cầu. Mối quan hệ giá trị được tái sinh trong quá trình phát triển của nền văn hóa xã hội và của cá nhân riêng lẻ. Do vậy, việc nghiên cứu giá trị không chỉ là miêu tả đơn giản những hiện tượng giá trị mà phải đặt trong mối quan hệ với nền văn hóa xã hội trong đó chủ thể sống và hoạt động.

Bằng quá trình xã hội hóa, con người lĩnh hội các giá trị từ nền văn hóa xã hội – lịch sử cùng với những tri thức, thái độ và tình cảm đã được xã hội hóa. Các tổ chức xã hội có vai trò quyết định trong việc giữ gìn, phổ biến các giá trị là: gia đình, hệ thống giáo dục và tất cả các tổ chức xã hội. Tuy nhiên, cá nhân không chỉ tiếp nhận các giá trị xã hội một cách giản đơn mà lĩnh hội chúng một cách có chọn lọc thông qua lợi ích và quan hệ thực tiễn của họ.

Trong sự chuyển biến của xã hội, việc nâng cao trình độ học vấn và phát triển xã hội nói chung dẫn tới việc tạo ra những giá trị mới, các giá trị mới này hoặc thay thế giá trị cũ hoặc tác động với chúng và làm thay đổi chúng. Khi các giá trị được hình thành cũng sẽ thay đổi theo sự biến đổi của xã hội. Nếu các tổ chức xã hội đón nhận các giá trị mới thì quá trình xã hội hóa sẽ xảy ra với mâu thuẫn giá trị ít hơn. Ngược lại, nếu như các giá trị được truyền đạt thông qua các tổ chức trong quá trình xã hội hóa có chức năng trái ngược nhau và không được củng cố bởi các kinh nghiệm xã hội thì các mâu thuẫn giá trị sẽ mạnh lên và lúc đó các thành viên xã hội sẽ cố gắng hướng tới các giá trị đối kháng riêng biệt.

Trong mối quan hệ với hiện thực con người không chỉ phản ánh hiện thực mà còn phản ánh về mặt giá trị. Trong nhận thức thấy rõ những sự kiện, chưa thấy được mối quan hệ giữa con người với đối tượng được nhận thức. Trong quan hệ đánh giá thể hiện mối quan hệ của bản thân chủ thể, khách thể được phản ánh vào trong tâm lý của chủ thể và mối quan hệ chủ thể – khách thể được chia làm hai loại: quan hệ nhận thức và quan hệ đánh giá.

+ Quan hệ nhận thức: chủ thể hiểu rõ bản chất và quy luật của khách thể.

+ Quan hệ đánh giá: xuất phát từ nhu cầu của bản thân chủ thể để từ đó phát hiện và tiếp thu thái độ của bản thân chủ thể đối với sự vật. Đối tượng được đánh giá đối với chủ thể là sự vật có giá trị.

Giá trị tồn tại bên trong chủ thể, nó không phải là một trạng thái sự vật mà là trạng thái tư tưởng và do đó giá trị không thể tồn tại được nếu không có chủ thể. Giá trị chỉ là giá trị khi trong ý thức của chủ thể biểu hiện với tư cách là một nội dung nhất định. Phán đoán nhận thức và phán đoán giá trị có chức năng khác nhau. Phán đoán nhận thức là sự phản ánh sự vật, sự kiện, thường chưa thấy được mối quan hệ giữa con người với đối tượng nhận thức. Phán đoán giá trị biểu hiện thái độ của chủ thể đối với đối tượng. Một sự vật được coi là giá trị khi chủ thể tán thành nó. Chủ thể tán thành hoặc không tán thành cái gì hoàn toàn phụ thuộc vào mối quan hệ của đối tượng với quyền lợi của chủ thể.

Như vậy, phán đoán giá trị về thực chất khác với phán đoán nhận thức. Song chúng có mối quan hệ với nhau, phán đoán nhận thức là tiền đề tất yếu của phán đoán giá trị, phán đoán giá trị luôn phải có sự thông báo về trạng thái sự kiện. Giữa con người và hiện thực có mối quan hệ độc đáo đó là quan hệ giá trị.

Về quá trình hình thành giá trị cụ thể, PGS Trần Trọng Thủy cho rằng: quá trình hình thành giá trị hay còn gọi là quá trình “tiếp nhận và lĩnh hội”, “sự nội tâm hóa”, “sự đồng nhất hóa” các giá trị là một quá trình xã hội phức tạp. Các giai đoạn của sự nội tâm hóa các giá trị được thực hiện như sau:

+       Thông tin về sự tồn tại của giá trị và những điều kiện để thực hiện nó.

+       “Phiên dịch” thông tin sang ngôn ngữ riêng của cá nhân.

+       Hoạt động tích cực, giá trị vừa nhận thức được tiếp nhận hay bị khước từ.

+       Đưa nó vào hệ thống các giá trị đã được thừa nhận của cá nhân.

+       Những biến đổi của nhân cách, bắt đầu từ sự tiếp nhận hay phủ nhận giá trị.

 

Theo tác giả một số trong các giai đoạn trên có thể bị bỏ qua. Trong trường hợp đó thì quá trình trên diễn ra không đầy đủ. Sự nội tâm hóa được tái tạo, điều này thường dẫn đến sự tiếp nhận một cách máy móc các hình mẫu và định hình của hành vi. Khi đó sẽ xảy ra sự nội tâm hóa ngược, các giá trị được thay thế bằng các đối tượng của nhu cầu, các giá trị bị thoái hóa đến mức chỉ còn là xung động bên ngoài thuần túy đối với hành động mà thôi.

Cơ chế hình thành giá trị trên có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng vào giảng dạy và giáo dục giá trị cho học sinh ở các cấp. Bởi vì thực chất quá trình dạy học và giáo dục là quá trình tổ chức hình thành ở học sinh những giá trị về văn hóa, khoa học, thẩm mỹ, đạo đức… Vì vậy mỗi người làm công tác giáo dục cần hiểu và nắm được cơ chế này.

 b. Con đường hình thành hành vi đạo đức

Hầu hết các lý thuyết về hành vi đạo đức giả thiết rằng hành vi đạo đức của trẻ nhỏ đầu tiên bị điều khiển bởi người khác qua những hướng dẫn trực tiếp, sự giám sát, sự trừng phạt, phần thưởng và sửa chữa cho đúng. Nhưng khi trẻ biết suy nghĩ, suy luận về những quy tắc đạo đức và những nguyên tắc của những người có quyền lực mà đã hướng dẫn họ, lúc đó trẻ lựa chọn những tiêu chuẩn như của chính họ. Khi con người hướng tới những giai đoạn suy luận đạo đức cao hơn, họ cũng có những bằng chứng sâu sắc hơn, và có thể học quyết tâm giúp đỡ và bảo vệ những nạn nhân của sự không công bằng hơn. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa sự suy luận đạo đức và hành vi đạo đức không được mạnh mẽ lắm (Berk, 1997). Rất nhiều nhân tố bên cạnh sự suy luận ảnh hưởng đến hành vi đạo đức. Hai ảnh hưởng quan trọng nhất đến hành vi đạo đức là sự tiếp thu có tính chất văn hoá và mẫu hình.

Như trên đã nói, khi đứa trẻ suy luận về giá trị đạo đức và các hành vi đạo đức thông qua lời khuyên, răn và chỉ bảo…, đứa trẻ hình thành một quan điểm về đạo đức. Nếu trẻ đưa ra được những lý do, những lập luận khi bọn trẻ được sửa đúng hay được chỉ dẫn về những hành vi của mình thì khi đó bọn trẻ có lẽ đang suy ngẫm về những nguyên tắc đạo đức nhiều hơn là thực hiện hành vi đạo đức. Còn sau đó, bọn trẻ có thể cư xử có đạo đức ngay khi “không một ai nhìn thấy?”. Chính vì vậy, những lý do làm rõ hiệu quả của hành vi được thể hiện bằng ngôn ngữ mà trẻ có thể hiểu được và rất có ích và quan trọng đối với sự tiếp thu một cách văn hóa các chuẩn mực đạo đức ở trẻ (Berk, 1997; Hoffman, 1998).

Ảnh hưởng quan trọng thứ hai đến sự phát triển hành vi đạo đức đó là mô hình mẫu. Những đứa trẻ mà luôn được đặt vào môi trường có sự chăm sóc đúng mức, môi trường của những người lớn luôn có xu hướng quan tâm hơn đối với quyền lợi và cảm giác của người khác (Lipscomb, Macallister và Bergman, 1985), thì đứa trẻ đó cũng sẽ biết cách chăm sóc và nghĩ đến người khác khi lớn lên. Hình mẫu xung quanh học sinh rất quan trọng đối với hình thành biểu tượng đạo đức và khả năng bắt chước hành vi của học sinh. Tuy nhiên người lớn cũng lưu ý rằng, làm mẫu hay làm gương không đồng nghĩa với sự “hy sinh hết mình”, bởi yêu thương “vừa đủ” của người lớn mới giúp trẻ hình thành hành vi đạo đức, nếu không nhân cách học sinh có thể bị biến dạng thành người ích kỷ, luôn đòi hỏi.

Mô hình hình thành hành vi và thói quen đạo đức

 

 

 

 

 

Mô hình hình thành hành vi đạo đức và thói quen ở học sinh cho thấy chúng ta có thể bắt đầu bài học về đạo đức từ các chuẩn mực, từ chính hành vi có tính đạo đức, từ reo rắc nhu cầu… Việc bắt đầu từ đâu hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm tâm lý của học sinh theo độ tuổi, đặc điểm tâm lý cá nhân riêng biệt và phụ thuộc vào kinh nghiệm đã có của học sinh.

 

 

NỘI DUNG 2:

CÁC CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ  SỐNG

VÀ KỸ NĂNG SỐNG

 

 

 

 

Hoạt động 1: Tạo “Bầu không khí giá trị”

 

Bao gồm các công việc sau:

  1. Đọc thông tin (a) của 2.1 và trả lời sau:

+       Tại sao bầu không khí giữ vai trò quan trọng trong giáo dục giá trị?

+       Bầu không khí cần có cho giáo dục giá trị là bầu không khí như thế nào?

  1. Thực hành theo nhóm: hãy phác họa ý tưởng cho bầu không khí giá trị.
  2. Thực hành triển khai việc tạo bầu không khí giá trị (âm nhạc, giọng nói, cách giao tiếp – ứng xử; môi trường lớp học, cách sắp xếp bàn ghế).

 

 

Hoạt động 2: Khám phá giá trị

 

Bao gồm các công việc sau:

  1. Đọc thông tin (b) của 2.1 và trả lời sau:

+       Có những bước nào trong quá trình khám phá và hiểu giá trị? Mô tả chúng và nêu ý nghĩa của mỗi bước.

+       Thường có những phương pháp nào trong từng bước của quá trình khám phá giá trị?

  1. Hãy thiết kế một nội dung hoạt động suy ngẫm về giá trị.
  2. Thảo luận: các hình thức giúp học sinh tiếp nhận và trải nghiệm các giá trị.

 

Hoạt động 3: Thảo luận về các giá trị

 

Bao gồm các công việc sau:

  1. Cung cấp thông tin về giá trị định hình thành (thông tin 1.3), cho học sinh thảo luận về các giá trị này.
  2. Phản biện: lớp chia làm hai nhóm với hai quan niệm đối ngược về định hướng giá trị – biện luận/phản hồi.
  3. Trao đổi cùng chuyên gia: Chuyên gia có thể là GV hoặc khách mời. Người học đặt các câu hỏi cho chuyên gia về giá trị.

 

 

Hoạt động 4: Khám phá các ý tưởng về sự cảm nhận và thể hiện các giá trị trong cuộc sống

 

Bao gồm các công việc sau:

  1. Thảo luận: các giá trị được thể hiện trong cuộc sống như thế nào? Hoặc chúng ta nhìn thấy giá trị ở những đâu?
  2. Thực hành: hãy thể hiện giá trị theo cách mà bạn muốn (có thể là bức tranh vẽ, là bản nhạc, là buổi biểu diễn văn nghệ…).
  3. Thảo luận: giá trị nằm ở đâu trong các môn học? và môn học giúp hình thành ở bản thân giá trị gì?
  4. Đọc thông tin thêm ở phần d và e (của 2.1).

 

Hoạt động 5: Sống với các giá trị

 

Bao gồm các công việc sau:

  1. Thảo luận: có sự khác biệt gì giữa nói về các giá trị và sống với các giá trị?
  2. Thảo luận các hình thức đưa giá trị vào cuộc sống.
  3. Tổ chức các hoạt động tập thể như điền dã, dạ hội, picnic, tham quan thực tế.

 

Hoạt động 6: Tìm hiểu chiến lược hình thành thái độ và giá trị

 

Bao gồm các công việc sau:

  1. Đọc thông tin 2.2 và trả lời câu hỏi:

+       Mối quan hệ giữa chiến lược và quan điểm hình thành thái độ và giá trị của Klausmeier and Goodwin được thể hiện như thế nào?

  1. Hãy vận dụng các chiến lược hình thành của Klausmeier and Goodwin vào phân tích giờ dạy Giá trị cho học sinh THPT.
  2. Thảo luận: các cách thức trải nghiệm giá trị trong lớp học
  3. Thảo luận nhóm: “Dùng nhân cách giáo dục nhân cách” được hiểu như thế nào trong giáo dục giá trị.

 

 

            THÔNG TIN CƠ BẢN CHO NỘI DUNG 2

 

Làm thế nào để “dạy” về các giá trị? Làm thế nào để khuyến khích học sinh khám phá, tìm hiểu và phát triển các giá trị cũng như những kỹ năng sống, thái độ sống, nhằm giúp họ phát huy hết tiềm năng sẵn có của mình? Và làm thế nào để học sinh biết mình có thể tạo nên sự khác biệt trên thế giới này và cảm thấy bản thân có đủ khả năng tạo dựng một thế giới tốt đẹp hơn?

 

2.1. Các phương pháp giáo dục giá trị sống của LVEP

a. Bầu không khí dựa trên nền tảng các giá trị

Xây dựng một bầu không khí có sự thấu hiểu lẫn nhau để tất cả mọi người đều cảm nhận được tình yêu thương, thấy mình có giá trị, được tôn trọng và an toàn.

Việc tạo nên bầu không khí dựa trên các giá trị trong bước chuẩn bị môi trường học tập là đều cần thiết để khám phá và phát huy tối đa các giá trị tích cực. Một môi trường giáo dục lấy người học làm trung tâm, mà trong đó các mối quan hệ dựa trên lòng tin cậy, quan tâm và tôn trọng sẽ khơi dậy động cơ tốt đẹp, sự sáng tạo tự nhiên, và gia tăng sự hiểu biết, đồng cảm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bầu không khí chiếm 50% thành công của giờ học giá trị

 

Học viên sẽ có cơ hội phát huy tối đa tiềm năng của mình trong một môi trường học tập có sự khuyến khích, ủng hộ, quan tâm và sáng tạo. Mọi hình thức kiểm soát bằng cách đe đọa, trừng phạt, gây sợ hãi, xấu hổ chỉ khiến học viên cảm thấy không phù hợp, tổn thương, ngượng ngùng và bất an.

Kỹ năng tạo dựng bầu không khí dựa trên nền tảng các giá trị

Kỹ năng tạo dựng bầu không khí dựa trên nền tảng giá trị cũng bao gồm các hoạt động: lắng nghe tích cực, đưa ra quy tắc hợp tác; đưa ra những dấu hiệu nhỏ thông báo giữ yên lặng, tập trung, khơi dậy cảm giác bình yên hoặc tôn trọng; giải quyết mâu thuẫn; và hình thức kỷ luật dựa trên giá trị.

Với Mô hình Lý thuyết LVEP, giáo dục viên có thể đánh giá các yếu tố tích cực và tiêu cực ảnh hưởng đến học sinh, lớp học hoặc trường học, và điều chỉnh các yếu tố để giúp học sinh cảm thấy mình được yêu thương, tôn trọng, thấu hiểu và an toàn hơn là cảm thấy ngượng ngùng, bị cô lập, tổn thương, sợ hãi và bất an.

b. Yếu tố hỗ trợ khám phá các giá trị

Mỗi hoạt động giá trị sống bắt đầu với 3 yếu tố hỗ trợ việc khám phá các giá trị – được ghi chú trong sơ đồ – bao gồm: Tiếp nhận Thông tin, Suy ngẫm, và Khám phá các giá trị qua thực tế cuộc sống.

Tiếp nhận Thông tin

Đây là cách dạy về giá trị theo kiểu truyền thống. Sách vở, chuyện kể, các nguồn thông tin có thể trở thành trợ thủ đắc lực trong việc khám phá các giá trị. Học sinh sẽ cảm thấy rất hứng thú khi được nghe những ví dụ thực tế về những người thành công khi họ mang trong mình những giá trị cần thiết.

Suy ngẫm

Các hoạt động tưởng tượng và suy ngẫm yêu cầu học viên đưa ra những ý tưởng của riêng mình. Ví dụ, học viên được yêu cầu hình dung về một thế giới hòa bình. Khi mường tượng ra những giá trị được ứng dụng, học viên có thể trải nghiệm và suy ngẫm về những ý tưởng của mình.

Hình thức hoạt động tập thể này hướng mọi người tập trung vào mục đích chung. Con người với mục đích chung có thể học cách giữ sự cam kết trong nhóm bằng cách tạo những hình ảnh tưởng tượng về tương lai và hình thành những nguyên tắc hành động. Những bài luyện tập này chính là hạt giống suy nghĩ ban đầu sẽ giúp mọi người đạt được điều mình mong muốn”. Senge

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: