Tây tiến – Quang Dũng

<Trở về trang Ngữ văn>

Tác giả: Quang Dũng

TÁC PHẨM – TÁC GIẢ
Nhà thơ Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng tỉnh Sơn Tây, nay thuộc ngoại thành Hà Nội, và mất vào năm 1988. Ông là một nhà thơ, tác giả của một số bài thơ nổi tiếng như Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ… ngoài ra còn là một họa sĩ, nhạc sĩ.
Thời còn cắp sách đến trường, nhà thơ Quang Dũng học Ban trung học tại trường Thăng Long; khi tốt nghiệp ông đi dạy học ở Sơn Tây. Vào những năm chống Pháp, nhà thơ Quang Dũng gia nhập quân đội, đến năm 1945 trở thành phóng viên báo Chiến đấu. Năm 1947, ông được điều đi học Trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây. Sau khóa học, về làm đại đội trưởng thuộc tiểu đoàn 212, Trung đoàn Tây Tiến. Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây Tiến, ông làm trưởng tiểu ban tuyên huấn Trung đoàn 52 Tây Tiến, rồi làm trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu III.
Ngoài tài làm thơ, nhà thơ Quang Dũng còn viết rất nhiều truyện ngắn và thoại kịch, cũng như có tranh sơn dầu đem triển lãm cùng với các họa sĩ nổi tiếng khác. Đồng thời ông còn sáng tác nhạc, nhạc phẩm “Ba Vì” của ông từng được mọi người hát trong thời kháng chiến chống Pháp.
Tháng 8 năm 1951, nhà thơ Quang Dũng xuất ngũ. Sau 1954, ông làm biên tập viên cho báo Văn nghệ, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học. Sau vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, nhà thơ Quang Dũng lui về ẩn thân trong nghèo nàn và bệnh tật. Bấy giờ thơ của ông bị phê bình mang hơi hướng “tiểu tư sản”, vì trong miền Nam thời gian đó, thơ ông được đem ra xuất bản và phổ biến rộng rãi được rất nhiều người hâm mộ. Về sau, như những nhà thơ lớn khác, Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh,… ông mai một và mất đi trong âm thầm. Ông mất ngày 13/10/1988 tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội.
Theo nhạc sĩ Trịnh Hưng, một người bạn rất thân với nhà thơ Quang Dũng kể lại :
Quang Dũng bắt đầu làm thơ vào năm 16 tuổi với bài “Chiêu Quân”. Các bài thơ tình kế tiếp là “Cố quận”, “Suối tóc”, “Buồn êm ấm”… Anh ấy quân sự giỏi mà cầm kỳ thi họa cũng đủ hết. Tài ba nhiều thứ lắm, người lại cao lớn, đẹp trai. Thời kỳ đó, người ta nhìn anh ấy là một thần tượng vì vẻ đẹp nam nhi hùng tráng, có nhiều tài mà nói chuyện có duyên nữa. Được mọi người coi là thần tượng nhưng anh ấy là người đứng đắn, tử tế.
Còn về bút hiệu Quang Dũng, nhạc sĩ Trịnh Hưng cho biết tiếp :
– Lúc bấy giờ, anh ấy mới hai mươi tuổi, đã hoạt động chống Tây. Khi đó, mấy ông Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Khái Hưng, Hoàng Đạo cũng đang hoạt động chống Tây. Quang Dũng lên Việt Bắc giúp con một người công chức đặc trách tỉnh đó, là cô Loan. Là gái mới, lại thấy ông này đẹp trai, học giỏi thành ra cô ấy yêu ông này ghê gớm lắm. Nhưng Quang Dũng lại không dám tính đến chuyện tình cảm vì sợ đang hoạt động và thấy việc chống Tây chưa thành công, thời gian còn dài sẽ khổ cho đời con gái. Nên từ giã cô ấy, ông sang tỉnh khác hoạt động thì bị Mật thám vây bắt, do đó ông mới trốn sang Tàu, đến học trường Hoàng Phố.
Trong lúc Quang Dũng ở bên Tàu thì tại quê hương, Nhất Linh viết lại mối tình cô Loan yêu ông ấy (tiểu thuyết Đoạn Tuyệt), nhưng nói tên ra thì sợ không được, thành ra mới đổi tên là Dũng. In cuốn sách ra, Nhất Linh gửi cho ông ấy đang ở bên Tàu. Thấy đề tên là Dũng, ông ấy thích quá, mới bảo “Anh Tường Tam đặt cho mình cái tên Dũng hay lắm, bây giờ phải tìm một cái họ mà phải là họ nào anh hùng, hạp với tên Dũng cơ.”
Do mẹ Quang Dũng họ Trần, ông ấy cũng thấy cụ Trần Hưng Đạo là người anh hùng, nên lấy họ Trần. Bây giờ phải thêm tên đệm, ông ấy nghĩ mãi ra cái tên “Quang” nên lấy tên là “Trần Quang Dũng”. Có tên Quang Dũng từ khi ông ấy ở bên Tàu. Từ bên Tàu về qua Yên Bái, ông ấy gặp cô Bùi thị Thạch thì lấy làm vợ cho đến ngày ông ấy mất.
Cho đến nay, nhà thơ Quang Dũng đã xuất bản nhiều tập thơ như : Mây đầu ô, Bài thơ sông Hồng, Thơ Quang Dũng …
Qua sơ lược tiểu sử trên, các giới văn nghệ sĩ thường có nhận xét về nhà thơ Quang Dũng cho rằng, ông là người đa tài, biết vẽ, thơ hay và hát giỏi. Bài thơ Tây Tiến của ông mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chất lãng mạn, đã được chọn giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông. Một số bài thơ của ông cũng đã được đem ra phổ nhạc như Phạm Duy phổ bài Tây Tiến; Phạm Đình Chương phổ Đôi mắt người Sơn Tây (từ hai bài thơ Đôi bờ và Đôi mắt người Sơn Tây), Cung Tiến với bài Kẻ ở. Đặc biệt bài thơ “Em mãi là 20 tuổi” được 3 nhạc sĩ Việt Dzũng, Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương phổ thành ca khúc khác nhau.
Nói về nhạc phẩm “Đôi mắt người Sơn Tây”. Vào năm 1948, nhà thơ Quang Dũng sáng tác bài “Đôi bờ”, bài thơ này đã gắn liền với tên tuổi của ông từ đó. Qua năm sau, năm 1949, ông viết về hoàn cảnh ly loạn nơi quê nhà, qua bài “Đôi mắt người Sơn Tây”. Đôi mắt này, rất nhiều người cho là của cô nào đó mà Quang Dũng yêu; nhưng thật ra, ông viết cho cô em ruột, là người có đôi mắt rất đẹp. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương có quê ngoại cũng ở Sơn Tây, nên đã phổ ý hai bài thơ nói trên vào một tựa nhạc.

Lịch sử một chuyện tình
Về người vợ của nhà thơ Quang Dũng, tức bà Bùi Thị Thạch, tác giả Phan Lạc Tiếp từng kể :
Bà Thạch xưa nổi tiếng là tiểu thư ở xứ sở núi rừng Yên Bái. Lúc đó bà dáng người cao ráo khoảng 1,65m, nước da trắng ngần, thường vận quần soóc trắng và đi xe đạp đua khiến cho bao nhiêu người phải mê mẩn. Đã sang tuổi 23 nhưng bà không ưng ai cho dù các đám hỏi từ sĩ quan, dạy học, tham phán, thừa phái v.v… ngày đêm rập rình dòm ngó.
Cuối xuân năm 1942, bỗng dưng bên nhà hàng xóm có khách. Khách là một chàng trai trẻ, cao to, phong vận lãng tử, hào hoa, nét mặt nghiêm buồn, thường ngồi bên khung cửa sổ thổi sáo và ngâm câu : “Chàng trai trẻ vốn dòng hào kiệt” (thơ “Chinh phụ ngâm”). Khiến bà Thạch nghĩ người khách này có thể đồng tâm, đồng điệu với mình, vì bà mê “Chinh phụ ngâm” lắm. Bà đã tìm cách nói chuyện với chàng.
Rồi chàng về Hà Nội. Bà ở lại bâng khuâng. Bà đã làm mấy câu thơ đề dưới ảnh chàng tặng :
“Mắt rộng tìm chi ở chốn này
Trần gian hẹp lắm vướng nhiều mây
Anh đừng can nết phong sương nữa
Rượu tình em sẽ chuốc anh say”.
Vài hôm sau, bà nhận được phong thư đầu tiên. Bàng hoàng nhưng không dám tin vào người hay đi khắp chân trời góc bể, không đâu là nhà. Không ngờ từ hôm đó, cứ đều đặn 4 ngày, bà lại nhận được thư của chàng. Thư viết trên giấy pơluya màu xanh, có in hình bông hồng ở góc. Tiếc là bà không giữ được những bức thư này vì những năm ấy, sợ bọn chó săn Tây đánh hơi biết chắc chàng hay về nhà bà nên bà đã đốt sạch.
Năm 1944, chàng từ biệt bà để đi xa. Chàng hát bài “Biệt ly” của Doãn Mẫn ngay bên chiếc cầu năm xưa để chia tay bà. Giọng của chàng trong trẻo và ấm áp. Năm 1947, Quang Dũng từ nước Tàu trở về, bao cô gái trẻ danh giá đánh tiếng mở lòng, Quang Dũng bảo với gia đình, ông lên Yên Bái nếu cô Thạch lấy chồng rồi thì mới về cưới vợ. Không ngờ bà Thạch vẫn một mực chờ đợi người viễn xứ trở về. Họ thành vợ thành chồng. Lúc đó bà Thạch đã 28 tuổi.
Thành vợ chồng rồi, họ lại sống xa nhau và đôi lúc gặp nhau trong thoáng chốc, đến năm 1954 mới gặp lại nhau khi bà Thạch sinh cô con gái út Phương Thảo, lần đó nhà thơ Quang Dũng ở nhà để đón tay đứa con vừa lọt lòng mẹ. Từ đó ông bà đã ở bên nhau, chung nhau trong một cuộc sống đầy vất vả.
Bà Thạch thuộc tầng lớp phụ nữ “nho gia” lấy bốn câu “Tam tòng Tứ dức” làm đầu, một thứ hình tượng người phụ nữ thường nép sau bóng chồng, nhẫn nhịn một đời vì chồng vì con. Bà khéo tay, làm nghề đan len để kiếm sống, và cả đời bà đan len để phụ giúp chồng con.
Bà Thạch hiểu chồng, bà chấp nhận tất cả :
“Tôi không mong nữa một kho tàng
Không ước lầu cao giấc mộng sang
Người về xin một hồn đơn chiếc
Một phút bên nhau những ngọc vàng”.
Và bà cũng từng viết những vần thơ so mình với công chúa Ngọc Hân – vợ vua Quang Trung Nguyễn Huệ khi xưa :
“Chồng người là nhà vua
Chồng tôi là nhà thơ
Cách nhau 3 thế kỷ
Cùng lưu danh muôn thuở
Người xưa làm thơ “Ai tư vãn”
Người nay làm thơ “Trách ai”
“ai” trước và “ai” sau
Nỗi niềm có khác nhau?
Là một kiếp đàn bà đã theo chồng chấp cả…”.
(còn 1 kỳ)

TÂY TIẾN
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
***
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
***
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
***
Doanh trại bừng lên hội đuốc, hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ
***
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?
***
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
***
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
***
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Phù Lưu Chanh 1948
Quang Dũng


ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY
Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao lần quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
oOo
Vừng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương
oOo
Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ lệ chứa chan
oOo
Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em còn bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông
oOo
Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây
oOo
Cho nhẹ lòng nhớ thương
Em mơ cùng ta nhé
Bóng ngày mai quê hương
Đường hoa khô ráo lệ
oOo
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh phủ quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng
oOo
Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc mầu chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta

ĐÔI BỜ
Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm heo về một sớm mai ?
oOo
Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự
Bên này em có nhớ bên kia
Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến
Hiu hắt chiều sông lạnh bến Tề
oOo
Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mơ
oOo
Xa quá rồi em người mỗi ngã
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào ?

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


%d bloggers like this: